Trang phục Việt: Áo ngũ thân và Nhật Bình

0

Nói về trang phục Việt thì ngày nay không còn nhiều người hiểu rõ, quan tâm về nguồn gốc cũng như giá trị lịch sử. Chính vì thế, Carmen tổng hợp bài viết này về hai loại trang phục truyền thống là áo ngũ thân và nhật bình để chia sẻ cùng mọi người.

Áo ngũ thân

Áo dài ngũ thân được định hình từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (năm 1744), được xem là tiền thân áo dài ngày nay.

Gọi là áo ngũ thân vì loại áo này được ghép bởi 5 vạt (5 thân) gồm 2 thân trước, 2 thân sau đối nhau ở trước ngực và sau lưng, thân thứ 5 ở phía trước nằm bên phải, trong thân thứ nhất.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, người Huế gọi là áo ngũ thân hay ngũ thể, với ý nghĩa tương truyền rằng, năm thân áo tượng trưng cho đạo lý cao đẹp của con người: bốn thân áo của vạt trước, vạt sau tượng trưng cho “tứ thân phụ mẫu”, thân trong tượng trưng cho người con. Áo ngũ thân cũng có năm nút, tượng trưng cho ngũ thường (nhân – nghĩa – lễ – trí – tín), ngũ luân (quân thần: vua – tôi, phụ tử: cha – con, phu phụ: chồng – vợ, huynh đệ: anh – em, bằng hữu: bạn bè). Áo ngũ thân luôn đi kèm với khăn vấn.nhat binh ngu than trang phuc viet 2 1024x576 - Trang phục Việt: Áo ngũ thân và Nhật Bình - tham-khao, lich-su

Áo mặc thường màu sắc nhã nhặn, không có diềm cổ, diềm tay áo, thường được mặc kèm một chiếc áo lót màu trắng để làm nền cho áo ngoài, thể hiện sự sạch sẽ ở bên trong. Mặc chiếc áo dài ngũ thân là mang trên mình đạo làm người, không được làm những điều trái luân thường đạo lý. Thể hiện quan niệm truyền thống đẹp đẽ của người Việt: cái gì đẹp thì nên giấu vào trong.
Áo dài ngũ thân nữ và nam may khá giống nhau, chỉ khác vài đặc điểm như: cổ áo nữ thấp hơn nam, ống tay áo nữ hẹp hơn ống tay áo nam, vạt áo nam dài hơn áo nữ.

Áo nam và nữ đều có 5 cúc, hàng cúc chạy theo vạt bên trái, phía trước rồi xuống eo. Ống tay được may nhỏ gọn hơn ống tay của áo tấc, áo giao lĩnh nên còn gọi loại áo này là áo ngũ thân tay chẽn.
Nhà thiết kế Quang Hòa cho hay, áo dài ngũ thân được may hai lớp, gồm lớp bên ngoài và lớp lót bên trong, thoải mái, tiện lợi, gọn gàng, kín đáo khi mặc. Kiểu dáng, kết cấu áo có công năng sử dụng cao, tạo cho người đàn ông có phong thái đĩnh đạc, oai phong. Với áo nữ có thể tôn dáng, che khuyết điểm cơ thể. Tuy vậy, may áo dài ngũ thân rất kỳ công, giá thành lại cao hơn so với áo dài thông thường.
Phân tích giá trị của áo dài ngũ thân, họa sĩ Nguyễn Đức Bình, Chủ nhiệm CLB Đình làng Việt, chỉ rõ: “Cách may, mặc áo dài ngũ thân, nhất là với áo dài nam thể hiện rõ các đặc tính: khiêm nhường, kín đáo, phong thái đĩnh đạc, thẩm mỹ tinh tế. Sự tinh tế còn thể hiện trên kỹ thuật may, như ghép hoa văn chỗ sống áo thật khớp, đường kim thẳng, nhỏ, đều, có chỗ được giấu kín không thấy đường chỉ khâu. Đường tà lượn, chân vạt áo có đường cong hình cánh cung rất sống động. Về góc độ mỹ thuật, các đặc điểm tạo hình tà, cổ, khuy, tay áo đều được tính toán rất kỹ lưỡng vừa phù hợp với công năng sử dụng vừa có thẩm mỹ. Trong các công đoạn may áo dài ngũ thân, công đoạn định hình của tà áo là công đoạn phức tạp nhất, bởi khi chiếc áo hoàn thiện, những vấn đề đẹp, xấu, cơ bản đều do công đoạn này mà ra”.
Hiện nay, không có nhiều người biết đến lịch sử, hình thức, đặc điểm thẩm mỹ của áo dài ngũ thân. Họa sĩ Nguyễn Đức Bình cho rằng, hình ảnh về chiếc áo dài ngũ thân nguyên bản đã bị áo dài sân khấu chiếm lĩnh. Sự chiếm lĩnh này đi kèm sự tùy tiện, đơn giản, giá thành rẻ, thiếu tìm hiểu của người may và mặc. Với áo dài nam không còn giữ được những nét tạo hình và cách may, cách mặc như áo ngũ thân có từ thời Nguyễn, không còn giữ được những đặc điểm tinh tế của áo dài ngũ thân thuở ban đầu.
Với áo dài ngũ thân truyền thống, cần chú ý mặc đúng trước khi mặc đẹp. “Trang phục phải có sự đồng bộ từ khăn, áo, gồm áo lót trắng, áo dài, có thể còn có áo the phủ nếu mặc gấm, quần ống rộng, sáng màu. Nhưng hiện nay, nhiều người không chú ý tới cách mặc đúng mà quan tâm tới tính thuận tiện khi mặc: mặc áo dài không có khăn quấn đầu, không mặc áo lót trắng bên trong, mặc quần ống côn, hoặc quần jean bên trong…”, họa sĩ Nguyễn Đức Bình nhấn mạnh.

Áo Nhật Bình

Áo Nhật Bình là Triều phục dành cho cung tần nhất, nhị, tam, tứ giai và là Thường phục của hoàng hậu, công chúa. Áo Nhật Bình có nguyên mẫu là dạng áo Phi Phong thời Minh, là loại áo xẻ cổ, có dạng đối khâm, cổ áo to bản tạo thành hình chữ nhật ở trước ngực, dưới ức có dải vải buộc hai vạt áo.

Thường phục Nhật Bình được đặt định vào năm 1807 thời vua Gia Long và được duy trì cho đến cuối thời Nguyễn… tư liệu tranh ảnh đầu thế kỉ XX cho thấy bất kể hoàng hậu, công chúa hay cung tần đều vấn khăn vành, mặc áo Nhật Bình.

Nguồn gốc Áo Nhật Bình là áo Phi Phong của Minh triều Trung Hoa được nhà Nguyễn phát triển lên, là dạng áo Đối Khâm có cổ hình chữ nhật to bản, dùng dây buộc hai vạt áo.

Do hoa văn ở cổ áo khi ghép lại tạo thành một hình chữ nhật ngay trước ngực người mặc, nên áo này gọi là áo Nhật Bình. Khắp thân áo trang trí theo thể thức hoa văn chính là dạng hình tròn khép kín, rải rác khắp áo đan xen với các hình phượng múa, hoa lá đính thêm các hạt tuyến lấp lánh. Ở tay áo đặc biệt có dải màu ngũ hành; lục, vàng, xanh, trắng, đỏ. Tuy nhiên quy chế tay dãy màu này lại không áp dụng trên loại áo Nhật Bình của bậc Hậu.nhat binh ngu than trang phuc viet 1 - Trang phục Việt: Áo ngũ thân và Nhật Bình - tham-khao, lich-su

Theo “Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ”, quy định về trang phục của hoàng hậu, công chúa, phi tần trong cung năm 1807 cụ thể như sau:

Cấp Hậu: Y phục gồm 1 áo bào Nhật Bình được làm bằng sa sợi vàng, trên áo thêu đủ 20 hình rồng, phượng, trĩ, loan và một bộ y phục thường may bằng tơ Bát ti trắng, trên đó có thêu họa tiết rồng phượng. Đi kèm với y phục là mũ và trâm cài. Đối với cấp Hậu sẽ được phát 2 chiếc mũ Cửu long kim phát, 8 cây trâm hình phượng làm bằng vàng và 1 chiếc mũ cửu phượng kim ước phát.

Công chúa: Trang phục của Công chúa đơn giản hơn cấp Hậu, với y phục chỉ gồm 1 áo Nhật Bình được may bằng sợi sa màu đỏ và thêu hình phượng cùng với 1 chiếc mỹ Thất phượng Kim ước phát và 12 cây trâm hoa.

Cấp cung tần nhị giai: Trang phục của Cung tần nhị giai nhà Nguyễn thời kỳ này có 1 chiếc mũ Ngũ phượng Kim ước phát và 10 cây trâm hoa đi cùng với 1 áo Nhật Bình màu xích đào thêu hình loan may bằng sợ sa, và 1 y phục thường làm bằng tơ Bát ti cũng thêu hình loan ổ.

Cấp Cung tần tam giai: Đối với cấp này, y phục khá giống với cấp nhị giai, chỉ khác là có màu tím sắc chính, còn về mũ thì bao gồm 1 chiếc mũ Tam phương Kim ước phát và 8 cây trâm hoa.

Cấu Cung tứ giai: Y phục của cấp Cung tứ giai là 1 chiếc áo Nhật Bình màu tím nhạt may bằng sợi sa và 1 y phục thường may bằng tơ Bát ti trắng, cả 2 y phục đều được thêu hình loa. Và mũ của cấp này là 1 chiếc Phượng kim ước cùng 8 cây trâm cài.

Xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, có thể nhận thấy qua ghi chép về điển lễ và phẩm phục triều nghi của nước ta, các đời Lý, Trần, Lê cho đến nhà Nguyễn đều được xây dựng dựa trên cơ sở của cùng các triều đại Trung Hoa như Hán, Đường, Tống, Minh nhưng theo lối “đại đồng tiểu dị”, vẫn mang những nét đặc sắc rất riêng của Đại Việt ta.

4d01e3fd - Trang phục Việt: Áo ngũ thân và Nhật Bình - tham-khao, lich-su
Nhóm m¥t g§n 2 tháng à hoàn thành áo Nh­t Bình. Nhóm sí dång máy may công nghiÇp và máy vi tính à may chính. ính kim sa, ngÍc bÙi, hay ráp các bÙ ph­n cça áo thì °ãc làm thç công. ¢nh: Nhóm cung c¥p.

Sự học hỏi và phỏng theo quy chế của Trung Hoa điều này bắt nguồn từ tâm lý tự tôn, muốn sánh ngang với các triều đại phong kiến phương Bắc, điều này được thể hiện rất rõ ràng từ việc các vua Đại Việt trong nước đều xưng đế chứ không xưng vương. Các triều đại khi lên đều đặt định phẩm phục và đặt định lễ nhạc theo văn hóa Hoa Hạ, coi mình là Trung Châu, Trung Hạ tức là trung tâm của một nền văn hóa khu biệt so với các sắc dân “man di”.

Theo quy chế nhà Nguyễn thì màu áo của bậc Hậu đều là màu vàng chính sắc, đôi khi là màu cam; còn bậc Công chúa đều là màu đỏ chính sắc, bậc Phi tần nhị giai là màu xích đào, bậc Tam giai là màu tím chính sắc và bậc Tứ giai là màu tím nhạt, bậc phi tần thấp hơn không có quy định trang phục này.

Màu sắc áo của các mệnh phụ quy định dựa vào phẩm cấp của chồng. Bậc Nữ quan có trang phục đơn giản hơn hẳn, gần với áo Phi Phong nguyên mẫu nhất.

Vào thời Gia Long và Minh Mạng, quy chế còn đủ đầy, áo Nhật Bình thường phối với một bộ Xiêm y màu tuyết bạch, đội mũ Phượng tùy thứ bậc. Tuy nhiên về sau, nhất là từ thời Đồng Khánh trở đi, trang phục này thường phối với quần ống trắng và vấn khăn vành to bản, cho thấy quy chế thời kì cuối nhìn chung ở cung đình đã tối giản hơn hẳn. Sau khi thời Nguyễn kết thúc, bộ áo này trở thành bộ áo trang trọng của giới quý tộc được mặc vào một số dịp lễ và nhất là ngày cưới.

Sự khác biệt giữa áo Nhật Bình và áo Phi Phong: không khác nếu xét về cấu trúc của các trang phục cổ Việt Nam. Nhận định trên có những lý giải sau:

– Về mặt nguồn gốc, Nhật Bình vốn dĩ là áo Phi Phong của Minh triều Trung Hoa được nhà Nguyễn phát triển lên. Cấu tạo cơ bản nó theo sát Phi Phong Minh và Thanh.

– Về mặt kết cấu may mặc, có thể khẳng định bắt đầu từ thời kì Bắc thuộc, các dạng thức may mặc của ta đều có sự học hỏi nhất định văn hóa phương Bắc. Các dạng áo như giao lĩnh, viên lĩnh, Nhật Bình đều dựa trên kết cấu may mặc từ phương Bắc để phát triển.

Carmen (tổng hợp và biên tập)

Lady in red. Tác giả là đứa con gái đời đầu 9x, sinh ra ở đất Sài Gòn ồn ào, hàng ngày vẫn băng qua những con đường khói bụi để mưu sinh, nhan sắc tầm thường, tài năng kém cỏi nên nỗi chỉ bán chữ dạo trong cõi đời này để lật lên những đau thương mà kiếm sống. Chọn cô đơn làm bạn, ân ái cùng sự điên cuồng của tâm hồn để vẽ nên những trái tim bằng máu chính mình trong màn đêm.